10 câu hỏi hay khi dạy Tiếng Việt Lớp 2 bộ sách Cánh diều

10 câu hỏi hay khi dạy Tiếng Việt Lớp 2 bộ sách Cánh diều
Thưa thầy cô
Đây là Những chú ý khi dạy Tiếng Việt Lớp  2 bộ sách Cánh diều trong mục BẠN HỎI – CHÚNG TÔI TRẢ LỜI Số thứ 6 của thầy Vũ Đông phụ trách về những khó khăn hay chưa hiểu, lúng túng khi triển khai dạy Tiếng Việt Lớp 1 và Lớp 2 Bộ sách Cánh diều. Mong các thầy cô quan tâm

Mới đây, chúng tôi nhận được một loạt các câu hỏi của các thầy cô giáo thuộc TP Nam Định đối với các môn học của Cánh diều. Trong số này xin được chia sẻ một phần các câu hỏi về môn Tiếng Việt và giải đáp của các tác giả Tiếng Việt 2 để các thầy cô có thể tham khảo.

Câu hỏi 1: về bài chính tả có nhiều chữ viết hoa đầu năm
GV trường TH Nguyễn Viết Xuân hỏi:
- Học sinh lớp 1 chưa học viết chữ hoa mà ngay từ đầu năm học các bài chính tả có nhiều chữ viết hoa học sinh chưa biết viết thì giải quyết thế nào?

TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- Từ phần Luyện tập tổng hợp, HS lớp 1 mới bắt đầu tập tô chữ hoa. Tuy nhiên, ngay từ những bài học đầu tiên, theo quy định chính tả, SGK đã phải viết hoa chữ cái đầu câu và viết hoa tên riêng. Để khắc phục độ vênh giữa kế hoạch dạy học với yêu cầu viết hoa đúng chính tả, SGK Tiếng Việt 1 và vở Luyện viết 1 kèm theo SGK chọn giải pháp sau:
- SGK dạy HS chữ nào thì giới thiệu chữ in hoa tương ứng ở chân trang.
- Vở Luyện viết 1 đã có sẵn chữ viết hoa (chấm mờ) trong những bài có yêu cầu viết câu hoặc có tên riêng. Trong trường hợp HS không sử dụng vở Luyện viết 1 và trong các BT khác, HS có thể viết chữ in hoa hoặc chữ viết hoa chưa cần thật đúng mẫu.

Câu hỏi 2: về ghi phiên âm tên người nước ngoài
GV trường TH Trần Quốc Toản hỏi:
- Tên tác giả các bài tập đọc trang 18, 26, 29, 34, 53, 146 sách Tiếng việt tập 1 và trang 33, 50, 56 sách Tiếng Việt tập 2 ghi phiên âm tên người nước ngoài mục tên tác giả bằng chữ in hoa sẽ khiến cho học sinh dễ nhầm lẫn về luật chính tả. Vậy có nên ghi bằng chữ in hoa phiên âm tên người nước ngoài ở mục tác giả không?

TGTV2 – Trần Mạnh Hưởng trả lời:
- Trong SGK Tiếng Việt Cánh Diều, tên tác giả đều được thể hiện bằng chữ in hoa, để thể hiện sự tôn trọng. Trong sách, báo (dễ nhận thấy nhất là ở bìa sách), tên tác giả cũng thường được viết bằng chũ in hoa. Vì mọi chữ cái trong tên tác giả đều thể hiện bằng kiểu chữ in hoa, không thể lấy những trường hợp này làm đại diện cho bất kì quy tắc viết hoa nào, vì đó chỉ là cách trình bày chữ in.
- Khi học viết hoa tên riêng, HS sẽ được quan sát mẫu, từ đó rút ra quy tắc viết và luyện viết đúng quy tắc.

Câu hỏi 3: về có nên in đậm các từ cần giải nghĩa trong các bài tập đọc
GV trường TH Trần Quốc Toản hỏi:
- Có nên in đậm các từ cần giải nghĩa trong các bài tập đọc để học sinh dễ phát hiện từ cần giải nghĩa không?

TGTV2 – Trần Mạnh Hưởng trả lời:
- Trong tất cả các SGK từ trước tới nay, những từ ngữ cần được giải thích đều đặt ở phần chú thích sau văn bản đọc hoặc ở chân trang. Việc in đậm những từ ngữ này trong văn bản đọc vừa không đúng nguyên tác, vừa làm sự chú ý của HS bị phân tán.
- Các từ ngữ cần giải nghĩa có thể được trình bày bằng những kiểu chữ khác nhau, như: chữ đậm (SGK Tiếng Việt – 2006), chữ nghiêng (SGK Tiếng Việt Cánh Diều).
- Chữ nghiêng có tác dụng không thua kém chữ đậm trong việc đánh dấu từ ngữ được giải thích, nhưng tạo cảm giác thị giác thoáng hơn (do độ dày, độ đậm của các nét chữ trên một trang sách đồng đều). Kết quả thực nghiệm cho thấy HS lớp 2 không gặp bất cứ khó khăn nào khi tìm hiểu từ ngữ được thể hiện bằng chữ nghiêng.

Câu hỏi 4: về Mục lục sách khó tra cứu
GV trường TH Nguyễn Viết Xuân hỏi:
- Mục lục lúc thì ghi theo tên hoạt động, lúc thì ghi theo tên biểu tượng có phải làm khó cho học sinh lớp 2 khi tra cứu không?

TGTV2 – Trần Mạnh Hưởng trả lời:
- Mục lục sách Tiếng Việt 2 thể hiện cấu trúc chung của sách (hệ thống chủ đề – chữ in hoa, cân giữa; chủ điểm – chữ in đậm ở cột 1) và cấu trúc của bài học (các hoạt động đọc, viết, nói và nghe ở cột 2 – như đã thể hiện ở hệ thống kí hiệu của sách; nội dung hoạt động – tên bài). Điều này không làm khó HS khi tìm kiếm bài học.
Cách phù hợp nhất để hướng dẫn HS lớp 2 tìm bài là nói cho các em biết cần mở trang sách nào. VD: khi dạy bài đọc Mít làm thơ, GV yêu cầu HS mở SGK Tiếng Việt 2 tập 2, tr.25.

Câu hỏi 5: về bài tập trong tiết chính tả
GV trường TH Nguyễn Viết Xuân hỏi:
- Vở Bài tập Tiếng Việt không có Bài viết 1. Vậy bài tập 1, 2, 3 học sinh phải viết và làm bài tập vào vở chính tả riêng, còn bài 4 thì viết vào vở Tập viết có đúng không?
TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- Vở Bài tập Tiếng Việt không thiết kế nội dung chính tả, tập viết. Nội dung này được thể hiện trong vở Luyện viết 2.
HS sẽ luyện viết chính tả, tập viết trong vở Luyện viết 2 hoặc viết vào vở ô li, nếu không mua vở Luyện viết.

Câu hỏi 6: về tiết GÓC SÁNG TẠO
GV trường TH Nguyễn Viết Xuân & TH Trần Nhân Tông hỏi:
- Các sản phẩm của học sinh ở tiết GÓC SÁNG TẠO có nhất thiết phải trình bày vào vở bài tập Tiếng Việt không?

TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- HS có thể thể hiện các sản phẩm Góc sáng tạo trên giấy, vở bài tập hoặc vở ô li. Một số trường hợp, sản phẩm GST là đồ thủ công. HS có thể dán các sản phẩm làm rời vào vở bài tập, vở ô li hoặc lưu giữ vào cặp giấy để xem lại hoặc trưng bày khi cần thiết.

Câu hỏi 7: về dạy Bài viết 1 có 2 tiết liền nhau
GV các trường TH Nguyễn Trãi, TH Lê Quý Đôn, TH Nguyễn Văn Trỗi, TH Kim Đồng, TH Nam Phong, TH Nam Vân hỏi:
- Khi dạy “Bài viết 1” (gồm phần chính tả và tập viết) Gv có thể dạy trong hai buổi khác nhau được không? Vì dạy viết liền hai tiết với HS lớp 2 nhất là giai đoạn đầu năm học e là viết hơi nhiều.

TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- Tuy Bài viết 1 được viết trong 2 tiết, nhưng HS không phải viết liên tục: Ở nội dung chính tả, bên cạnh BT chính tả đoạn bài còn có BT chính tả âm vần; ở nội dung tập viết, trước khi luyện viết, HS còn phân tích chữ mẫu và quan sát GV viết mẫu.
Hoạt động luyện viết của HS cũng khá đa dạng về nội dung (viết chữ / viết từ ngữ / viết đoạn, bài) và hình thức hoạt động (viết bảng, viết vở, làm các BT chính tả âm vần).
Do vậy, không cần quá lo lắng về việc bố trí Bài viết 1 trong 2 tiết liền nhau.
- Tuy nhiên, GV có thể tách 2 nội dung Chính tả và Tập viết thành 2 buổi học riêng, nếu thấy làm như vậy phù hợp với học sinh lớp mình giảng dạy (hoặc không bố trí được 2 tiết học liền trong 1 buổi): dạy mỗi nội dung chính tả, tập viết trong 1 tiết độc lập (như đã thực hiện trong chương trình 2006).

Câu hỏi 8: về có nên bỏ yêu cầu viết cỡ chữ vừa (cỡ nhỡ) trong giờ tập viết
GV các trường TH Nguyễn Trãi, TH Nguyễn Văn Trỗi, TH Chu Văn An hỏi:
- Phần tập viết có nên bỏ yêu cầu viết cỡ chữ vừa (cỡ nhỡ) vì không phù hợp với học sinh lớp 2?

TGTV2 – Trần Mạnh Hưởng trả lời:
- Trong vở Luyện viết 2, HS chỉ cần viết 1 dòng chữ hoa cỡ vừa để quen với quy trình viết (điểm bắt đầu, điểm kết thúc, độ cao, điểm dừng bút,... đúng như GV đã mô tả theo cỡ vừa của chữ mẫu), sau đó tập viết chữ hoa cỡ nhỏ. Bố trí như vậy là hợp lí, đảm bảo tính sư phạm.
- Nếu HS luyện viết trên vở ô li, tuỳ tình hình cụ thể của mỗi lớp, GV có thể chủ động quyết định cho HS viết viết hoa chữ cỡ vừa trước như trong vở Luyện viết 2 hay viết chữ hoa cỡ nhỏ ngay từ đầu. Tuy nhiên, HS viết theo cỡ nhỏ, GV sẽ khó khăn khi hướng dẫn, nhận xét về cách viết. So sánh mô tả cách viết nét 2 của chữ hoa B theo 2 cỡ chữ như sau:
+ Chữ cỡ vừa: Từ điểm dừng của nét 1, lia bút lên ĐK5 (bên trái nét móc) viết tiếp nét cong trên và cong phải liền nhau, tạo vòng xoắn nhỏ gần giữa thân chữ (dưới ĐK4); dừng bút ở khoảng giữa ĐK2 và ĐK3.
+ Chữ cỡ nhỏ: Từ điểm dừng của nét 1, lia bút lên ĐK3 (bên trái nét móc) viết tiếp nét cong trên (cao đến khoảng giữa ĐK3 và ĐK4) và cong phải liền nhau, tạo vòng xoắn nhỏ gần giữa thân chữ (giữa ĐK2 và ĐK3); dừng bút ở gần ĐK2 (cao 3/4 li).
HS khó ước lượng “cao đến khoảng giữa ĐK3 và ĐK4”, “cao 3/4 li”, vì khoảng cách của 2 ĐK trên li vở của HS rất nhỏ (0,25 cm).

Câu hỏi 9: Về phân bố thời gian
GV các trường TH Hồ Tùng Mậu, TH Lê Quý Đôn, TH Trần Văn Lan, TH Lê Hồng Sơn, TH Nam Phong, TH Nam Vân hỏi:
- Bài đọc 1 có các hoạt động chia sẻ về chủ điểm, luyện đọc, tìm hiểu bài, luyện tập phân bố thời gian cho tiết 1 và tiết 2 như thế nào?
TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- Theo quan điểm tiếp cận đối tượng, GV được quyền quyết định thời lượng dạy học và phân bổ thời lượng phù hợp cho mỗi nội dung trong một hoạt động (đọc, viết, nói – nghe), phù hợp với trình độ học sinh và điều kiện lớp học.
Với các lớp có điều kiện học tập và đặc điểm nhận thức của HS không quá đặc biệt, thầy cô có thể phân chia thời lượng cho Bài đọc 1 theo gợi ý sau:
- Tiết 1: Chia sẻ + đọc thành tiếng;
- Tiết 2: Đọc hiểu + Luyện tập (kể cả Học thuộc lòng, nếu có).

Câu hỏi 10: Về chia sẻ về chủ điểm
GV trường TH Hồ Tùng Mậu hỏi:
- Ở phần bài đọc, nếu cho phần chia sẻ về chủ điểm, luyện đọc, tìm hiểu bài vào tiết 1 thì khi sang tiết 2 có cần thực hiện đầy đủ các bước theo đúng quy trình của một tiết học không hay dạy nối tiếp luôn tiết 1?

TGTV2 – Đặng Kim Nga trả lời:
- Khi HS học Bài đọc 1 trong 2 tiết liên tục, GV tổ chức các hoạt động học của HS theo quy trình thông thường đối với tất cả các bài đọc. Có thể cho HS giải lao ngắn tại chỗ cuối tiết 1 (VD: hát 1 bài, thư giãn tại chỗ...) trước khi học tiếp phần còn lại ở tiết 2.
- Nếu buộc phải dạy Bài đọc 1 trong 2 tiết học không liền nhau: Có thể cho HS khởi động nhanh ở đầu tiết học thứ 2, giúp HS kết nối nội dung đã học với nội dung sẽ học, VD: có thể cho HS đọc lại bài trước khi trả lời câu hỏi đọc hiểu,…

Top