Đưa CNTT vào dạy học ở trường Tiểu học như thế nào

Nếu chúng ta không ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy thì đây là một thiệt thòi lớn cho cả học sinh và giáo viên . Nhưng ứng dụng mà không đúng lúc đúng chỗ , không đúng các tình huống cần thiết thì lại phản tác dụng , phản khoa học ,gây nhàm chán cho học sinh, học sinh không ghi được nội dung bài học dẫn đến chất lượng tiết học kém chất lượng .

Trích luận án TS của NCS.Nguyễn Chí Tăng

Viện Tâm lý học Việt Nam

I. KINH NGHIỆM TRONG SOẠN GIẢNG CÓ ỨNG DỤNG CNTT

Nếu chúng ta không ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy thì đây là một thiệt thòi lớn cho cả học sinh và giáo viên . Nhưng ứng dụng mà không đúng lúc đúng chỗ , không đúng các tình huống cần thiết thì lại phản tác dụng , phản khoa học ,gây nhàm chán cho học sinh, học sinh không ghi được nội dung bài học dẫn đến chất lượng tiết học kém chất lượng .


Sau đây là một số kinh nghiệm xây dựng cho bài giảng có ứng dụng CNTT  làm cho tiết học sinh động ,học sinh  tiểu học ham mê học , chất lượng tiết dạy đạt hiệu quả cao .

Đầu tiên,  Tôi xin lực trích một số nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Chí Tăng về sử dụng  kĩ năng  ứng dụng CNTT vào dạy học như sau:

--------------------------

"...Kỹ năng ứng dụng CNTT vào HĐGD của GV là khả năng hoạt động, hành động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo với việc đưa thành tựu của CNTT vào HĐGD. Cụ thể bao gồm các  nhóm kỹ năng sau:


Nhóm 1. Nhóm kỹ năng nâng cao kiến thức tin học:

Kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học mới của GV thể hiện ở khả năng ứng dụng được các phầm mềm đó vào HĐDH của mình. Chẳng hạn khi có phần mềm Violet, GV biết cách cài đặt, chạy phần mềm để soạn câu hỏi trắc nghiệm, sử dụng phần mềm này khi đánh giá học sinh; làm được như vậy là đã có kỹ năng sử dụng phần mềm này và trình độ tin học cũng được nâng cao.Internet là một phương tiện rất hữu ích để học tin học, người GV có thể học qua các lớp học trực tuyến hoặc tự học thông qua các tài liệu tin học đã được đăng tải trên mạng. Để học bằng phương tiện này đòi hỏi người học phải biết cách học và có phương pháp học hợp lý cho mình, tức là phải có kỹ năng học đặc biệt là kỹ năng tự học.Cũng có thể nâng cao trình độ tin học từ những tài liệu sách vở, song đòi hỏi người học phải có kỹ năng thực hành những điều đã học được trên máy vi tính. Như vậy, nhằm nâng cao trình độ tin học bằng cách này, đòi hỏi người GV phải kết hợp khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa với các thao tác thực hành cụ thể trên máy vi tính. Một con đường không kém phần quan trọng để nâng cao kiến thức tin học cho GV là trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp. Trao đổi cùng đồng nghiệp về cả những điều mình biết và không biết thông qua trò chuyện trực tiếp hoặc thông qua mạng Internet (tham gia diễn đàn, lớp học ảo). Trong thực tiễn có những vấn đề mà tự ta khó có thể giải quyết được hoặc giải quyết được nhưng mất nhiều thời gian do phải mày mò tìm kiếm, nhưng nếu trao đổi cùng đồng nghiệp thì việc giải quyết nó lại trở nên đơn giản và dễ dàng. Vì vậy, đây là việc làm cần được tiến hành thường xuyên, coi như là một biện pháp để nâng cao dần trình độ tin học cho bản thân.

Nhóm 2. Nhóm kỹ năng thiết kế bài giảng băng MS.Powerpoint.

Thiết kế bài giảng bằng MS.Powerpoint trước hết phải nói đến kỹ năng xây dựng kịch bản. Người GV lúc này như một nhà đạo diễn, họ phải hình dung bài soạn sẽ được sọan như thế nào, nội dung nào sẽ được đưa vào Slide, đặt hiệu ứng của mỗi Slide như thế nào để toát lên được nội dung, liên kết với đoạn phim ảnh nào, dữ liệu đó lấy từ đâu, liên kết với mạng ra sao, sử dụng các phần mềm nào hỗ trợ…Tức là GV phải có kỹ năng tiến hành các bước sau để xây dựng kịch bản:    

Bước 1: Xây dựng mô hình thể hiện nội dung dạy học nhất là phần trọng tâm của bài.

Bước 2: Xây dựng mô hình tương tác giữa thầy và trò, giữa trò với trò và các đối tượng khác trong môi trường tương tác, hoạt động tương tác trong từng pha dạy học cũng như trong toàn bộ giờ học.

Bước 3: Hình dung việc thể hiện các nội dung dạy học cụ thể trên màn hình vi tính, cách thể hiện các thông tin, thể hiện các hiệu ứng phản hồi trong từng pha dạy học; thứ tự của các pha dạy học.

Bước 4: Dựa vào bước 3, mô tả toàn bộ các pha dạy học theo trật tự tuyến tính hoá. Để làm được những việc trên người GV phải có được các kỹ năng thao tác tri tuệ tốt như: phân tích, tổng hợp, phán đóan, trừu tượng hóa, khái quát hóa…

Một vài ba lần ứng dụng CNTT vào HĐGD thi chưa thể hình thành được kỹ năng xây dựng kịch bản mà phải ứng dụng nhiều lần kết hợp học hỏi, rút kinh nghiệm cùng đồng nghiệp.Xây dựng được kịch bản rồi, dựa vào đó GV sẽ thiết kế bài giảng.

Công việc tiếp theo là lựa chọn nội dung nhập liệu vào các Slide. Kỹ năng nhập liệu vào các Slide lại có hàng loạt kỹ năng cụ thể. Trước hết là kỹ năng tạo các Slide, kỹ năng tạo Text Box, kỹ năng soạn thảo văn bản, vẽ sơ đồ … tiếp đến là các kỹ năng thao tác trí tuệ: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa nhằm lựa chọn được nội dung hợp lý đưa vào các Slide; đảm bảo súc tích, ngắn gọn không ôm đồm. Nhằm mục đích khi giảng dạy các Slide trở nên sinh động và toát lên được nội dung cơ bản, người GV cần phải biết đặt hiệu ứng cho các Slide. Kỹ năng này được hình thành thông qua nghiên cứu phần mềm MS.Powerpoint (phần đặt hiệu ứng), thực hành tập luyện trên máy vi tính và ứng dụng vào thiết kế các bài giảng cụ thể. Đặt hiệu ứng phải được chọn lọc cho phù hợp, không rườm rà, không lạm dụng hiệu ứng vì nó rất dễ dàng làm phân tán chú ý của học sinh. Liên kết hoặc chèn phim ảnh vào Slide là một việc làm rất nhiều GV thường hay sử dụng. Người GV phải có kỹ năng sưu tầm phim ảnh phù hợp, biết scanner hình, biết chụp ảnh, quay phim và xử lý phim ảnh kỹ thuật số, biết tiến hành các thao tác liên kết hoặc chèn phim ảnh.Để bài giảng phong phú và sát thực tiễn đòi hỏi người GV phải có kỹ năng sưu tầm tư liệu từ các tài liệu sách báo đặc biệt từ Internet, một bài giảng thiết kế tốt còn biểu hiện ở chỗ GV biết liên kết trực tuyến với mạng Internet và liên kết với các phần mềm ứng dụng khác. Tất cả các kỹ năng này đều phải học và được thực hành thì mới hình thành được, muốn thành thạo thì phải được ứng dụng thường xuyên.

Nhóm 3. Nhóm kỹ năng khai thác thông tin từ đĩa CD_R,DVD_R.

Có đĩa chứa dữ liệu rồi nhưng để có thông tin đòi hỏi người GV phải biết xử lý với đĩa, cụ thể là họ phải có kỹ năng chạy đĩa trên các phương tiện như đầu máy Video, máy vi tính, phải biết sửa chữa nhỏ khi đĩa có những lỗi đơn giản về vật lý. Muốn liên kết thông tin từ đĩa với nội dung giáo án điên tử thì GV phải chạy đĩa trên máy vi tính. Cho tiện sử dụng, GV cần đưa thông tin từ đĩa CD_R, DVD_R sang các loại đĩa chuyên dụng của máy vi tính. Tức là GV phải có kỹ năng liên kết và sao chép thông tin.

Nhóm 4. Nhóm kỹ năng truy cập thông tin trên mạng Internet.

Thông tin trên mạng nằm trong các trang Web và Blog, do đó kỹ năng đầu tiên người GV cần có là kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm: Google và Yahoo. Chẳng hạn kỹ năng xác định từ khóa để tìm, kỹ năng tìm kiếm nâng cao. Khi đã tìm kiếm được tư liệu cần thiết thì GV phải có kỹ năng quan trọng là Download hoặc Copy được tư liệu đó để đúng vào thư mục cần thiết của mình. Nhằm trao đổi thông tin với người khác và đồng nghiệp đòi hỏi GV phải có được kỹ năng gửi và nhận Email. Kỹ năng này rất đơn giản, nhưng để có được thì phải có sự hướng dẫn, thực hành và sử dụng nhiều lần sẽ thành thạo. Một kỹ năng nữa cũng giúp người GV trao đổi thông tin cho nhau đó là kỹ năng tham gia diễn đàn. Rất nhiều Website trên mạng Internet có chuyên mục tham gia diễn đàn, đó là cơ hội để mọi người trao đổi thông tin với nhau, cùng nhau bàn luận về một vấn đề nào đó. Diễn đàn rất gần với người GV trên các Website như Giaovien.net, EduNet mạng giáo dục, DienDanTinHoc.net, diendantoanhoc.net vv…Để tham gia các diễn đàn đòi hỏi GV phải có chuyên môn về lĩnh vực mà mình tham gia và có kỹ năng tin học cần thiết. 

Nhóm 5. Nhóm kỹ năng giảng bài trên lớp có ứng dung CNTT.

Trước hết GV phải có kỹ năng điều khiển, điều chỉnh máy vi tính và các phương tiên kỹ thuật. Có được kỹ năng này thầy giáo tự tin khi giảng bài, trong quá trình giảng bài không bị chi phối bởi các phương tiện kỹ thuật, nếu có những trục trặc nhỏ họ bình tĩnh giải quyết. Không ít GV do chưa có được kỹ năng này nên khi giảng bài rất lúng túng, chú ý đến bài học thì lại quên máy và ngược lại, có những người cả giờ dạy phụ thuộc vào máy. Kỹ năng này được hình thành và củng cố trong quá trình người GV giảng dạy có ứng dụng CNTT, càng ứng dụng nhiều thì kỹ năng này càng nhanh được hình thành và trở nên thành thạo.Kỹ năng chạy phần mềm trình chiếu sẽ góp phần quyết định đến hiệu quả giờ dạy, người GV phải có khả năng sử dụng thành thạo phần mềm ứng dụng, nếu không chắc chắn trong quá trình ứng dụng vào bài dạy sẽ xuất hiện những khó khăn, nhiều khi không biết cách giải quyết. Kỹ năng này được hình thành qua học và thực hành theo tài liệu hoặc từ những người đã biết, rồi tập ứng dụng và tiến tới mạnh dạn ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy của GV. Trong dạy học có ứng dụng CNTT cũng như trong dạy học thông thường, không khi nào người GV chỉ sử dụng một phương pháp mà phải phối hợp các phương pháp dạy học nhờ đó mà hiệu quả giờ học sẽ tốt hơn. Ứng dụng CNTT được coi là phương pháp hiện đại, tối ưu góp phần tích cực cho đổi mới phương pháp dạy học, GV cần chú ý đa dạng hóa các hình thức dạy học, phải biết kết hợp với các phương pháp dạy học khác như: nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại, thuyết trình, làm việc theo nhóm, hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu... Tùy theo đặc điểm của từng chương, từng bài, tùy theo đối tượng học sinh để sử dụng các phương pháp giảng dạy thích hợp mới có thể đạt được hiệu quả cao trong dạy và học. Ứng dụng CNTT phối hợp với các phương pháp dạy học khác là một công việc rất khó khăn, phải đầu tư nghiên cứu, tập luyện và ứng dụng nhiều lần thì mới có được kỹ năng. Khi đã có kỹ năng phối hợp ứng dụng CNTT với các phương pháp khác, hoạt động của người GV trên lớp gần như thoát ly khỏi máy móc; công nghệ máy móc sẽ hỗ trợ hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò và chỉ là phương tiện để cho thầy triển khai bài học theo dự kiến của mình. Trong giờ giảng có ứng dụng CNTT, GV thành thạo ba kỹ năng trên chắc chắn giờ lên lớp của họ sẽ đặt hiiệu quả cao.

Nhóm 5. Nhóm kỹ năng xử lý kết quả học tập của học sinh bao gồm các kỹ năng cụ thể:

Kỹ năng nhập liệu vào bảng tính, kỹ năng này xem ra rất đơn giản nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tính toán, nếu nhập liệu sai thì kết quả sẽ sai. Để nhập liệu được vào bảng tính người GV phải biết cách tạo bảng tính, định dạng cho các cell (dạng Text, Number, …), định dạng phông chữ, cỡ chữ, độ rộng hàng cột …Khi tính toán GV phải biết sử dụng các hàm chứ không tính nhẩm, thủ công. Muốn có kỹ năng này, GV phải học các hàm tính toán và thực hành nó tương đối thành thạo mới ứng dụng vào xử lý kết quả học tập của học sinh. Phần mềm tính toán hiện nay có rất nhiều, song phổ biến và được nhiều GV sử dụng là phần mềm Excel. Như vậy, để có kỹ năng xử lý kết quả học tập của học sinh người thầy giáo phải học và nghiên cứu phần mềm Excel một cách kỹ càng.

Nhóm 6. Nhóm kỹ năng soạn đề kiểm tra, đề thi, ngân hàng câu hỏi, trước hết phải nói đến khả năng sử dụng phần mềm Word.

Đây là phần mềm soạn thảo văn bản tiện dụng, đòi hỏi người dùng phải có một số kỹ năng rất cụ thể như: gõ bàn phím; chọn công cụ gõ tiếng Việt (Vietkey hoặc Unikey); mã, font chữ Việt; định dạng văn bản. Ngày nay nhiều GV đã sọan ngân hàng câu hỏi của bộ môn họ phụ trách nhằm phục vụ cho nhiều đợt kiểm tra và kỳ thi khác nhau. Để có các đề ít trùng lập câu hỏi thầy giáo phải biết sử dụng phần mềm trộn câu hỏi. Tất cả các kỹ năng trên được hình thành bằng con đường học và hành của mỗi GV, không có học và hành cụ thể thì không thể có được kỹ năng đó.
Nhóm 7. Nhóm kỹ năng lưu giữ thông tin từ đọc sách báo và tài liệu, đòi hỏi người GV phải luyện tập để có được kỹ năng cụ thể:

biết tạo tập tin và nhập liệu những thông tin cần lưu trữ vào tập tin đó; biết tạo thư mục và biết phân lọai tập tin để đưa vào mỗi thư mục tương ứng, theo ý định riêng.

Nhóm 8. Nhóm kỹ năng soạn giáo án điện tử, gồm các kỹ năng:
sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản (Word), kỹ năng truy cập tài liệu từ Internet, đĩa CD_R,DVD_R...."

II. MỘT SỐ LƯU Ý KHI  SOẠN GIẢNG CÓ ỨNG DỤNG CNTT

- Nếu coi giáo án là kịch bản thì bài giảng được coi là vở kịch được công diễn .

* Giáo án điện tử

Là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa vào máy vi tính lưu trữ ở dạng điện tử

* Bài giảng điện tử

Bài giảng là tiến trình giáo viên triển khai giáo án của mình trên lớp nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử

* Lưu ý :

Các thiết bị điện tử hỗ trợ được xem như bảng phụ và không được “Bảng chính dính bảng phụ”

1.Trang trí, trình bày bài giảng :

-  Font  phải dễ đọc , cỡ chữ 24 trở lên Thường là Arial

- Chữ đậm trên nền nhạt hoặc ngược lại

- Không được sử dụng quá nhiều kiểu chữ, kích cỡ quá chênh lệch , sử dụng nhiều tông màu chỏi nhau trong một Slide

-Sử dụng hiệu ứng , âm thanh phù hợp

2. Kiểm tra bài cũ

-         Câu hỏi

- Đáp án ( nếu cần )

- Nếu cần thiết giảng giải vấn đề gì đó ( sử dụng phấn trắng bảng đen )

3. Bài mới

Hệ thống câu hỏi xây dựng bài mới

-Bài tập trắc nghiệm

-Nhận xét ,kết luận ,định nghĩa

-Hình ảnh , đoạn phim, thí nghiệm ảo dùng khắc sâu kiến thức

-Bài tập củng cố từng phần

-Bài tập chữa mẫu (Cách trình bày một bài tập)

-Hướng dẫn về nhà

CÁC MẶT

CÁC YÊU CẦU

XL- Đ

0

1

2

Nội dung

1

Chính xác, khoa học  (Khoa học bộ môn và quan điểm tư tưởng, lập tr­ường chính trị).

 

 

 

2

Bảo đảm tính hệ thống, đủ nội dung, làm rõ trọng tâm.

 

 

 

3

Liên hệ với thực tế (Nếu có), có tính giáo dục.

 

 

 

Phương pháp

4

Sử dụng ph­ương pháp phù hợp với các đặc tr­ng bộ môn, với nội dung của kiểu bài lên lớp.

 

 

 

5

Kết hợp tốt các ph­ương pháp trong các hoạt động dạy học.

 

 

 

Phương tiện

6

Sử dụng và kết hợp tốt các ph­ương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung của kiểu bài lên lớp.

 

 

 

7

Trình bày bảng hợp lý, chữ viết, hình vẽ, lời nói rõ ràng, chuẩn mực; giáo án hợp lý.

 

 

 

Tổ chức

8

Thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp, phân phối thời gian hợp lý ở các phần, các khâu.

 

 

 

9

Tổ chức và điều khiển học sinh học tập tích cực, chủ động phù hợp với nội dung của kiểu bài, với các đối tượng; học sinh hứng thú học tập.

 

 

 

Kết quả

10

Đa số học sinh hiểu bài, nắm vững trọng tâm, Biết vận dụng kiến thức.

 

 

 


Đánh giá xếp loại tiết dạy

*Loại giỏi :  - Điểm tổng cộng đạt từ  17-20

- Các yêu cầu 1,4,6,9 phải đạt 2 điểm

*Loại khá : - Điểm tổng cộng đạt từ  13 -16.5

- Các yêu cầu 1,4,9 phải đạt 2 điểm

*Loại TB   : - Điểm tổng cộng đạt từ  10 -12.5

- Các yêu cầu 1,4 phải đạt 2 điểm

*Loại yếu :  Tổng điểm từ 9.5 trờ xuống

III. MỘT SỐ LƯU Ý KHI KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRÊN MẠNG ĐỂ SOẠN GIẢNG CÓ ỨNG DỤNG CNTT.

- Tìm kiếm hình ảnh trực quan

- Tìm kiếm các đoạn fim phục vụ bài dạy

-  Tìm kiếm giáo án Word , đề kiểm tra , đề thi , tài liệu ôn thi

-  Tìm kiếm bài giảng điện tử , bài giảng hướng dẫn sử dụng phần mềm

-  Tìm kiếm các phần mềm ứng dụng môn toán

Các địa chỉ trên mạng giúp chúng ta

-http://www.baigiangbachkim.com.vn

-http://www.giaovien.com.vn

-http://www.edu.com.vn

-http://www.sogiaoduc&daotaokiengiang.com.vn

-http://www.sogiaoduc&daotaohanoi.com.vn

-http://www.sogiaoduc&daotaoTPHCM.com.vn

-http://www.THPTchuyenquangtrung

 

Pin It

________________________Source:tieuhocvn.info___________________

Top