Rèn cho học sinh Lớp 4 viết chữ căng, thẳng, tròn, đều

Là người giáo viên chủ nhiệm, ai cũng mong muốn học sinh của mình tất cả đều là những người văn hay chữ tốt. Nhưng nếu như các em học yếu, chữ viết xấu, cẩu thả, vở chưa sạch thì kết quả sẽ ra sao? Đó là câu hỏi đặt ra mà  tất cả những giáo viên cần tập trung giải quyết kịp thời.

Rèn cho học sinh Lớp 4 viết chữ căng, thẳng, tròn, đều như thế nào?

Là người giáo viên chủ nhiệm, ai cũng mong muốn học sinh của mình tất cả đều là những người văn hay chữ tốt. Nhưng nếu như các em học yếu, chữ viết xấu, cẩu thả, vở chưa sạch thì kết quả sẽ ra sao? Đó là câu hỏi đặt ra mà  tất cả những giáo viên cần tập trung giải quyết kịp thời. Để đạt được điều mong muốn trên đòi hỏi cả thầy lẫn trò phải thật kiên nhẫn. Chính vì thế, tôi vận dụng một số biện pháp để giải quyết những nội dung cơ bản trên như sau :

3.1.Tìm hiểu về nội dung chương trình dạy học môn Tập viết ở Tiểu học.

Giáo viên nghiên cứu và nắm lại một số yêu cầu về nội dung chương trình Tập viết hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở từng khối lớp như sau :

Lớp Một : Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh. Viết các chữ cái cỡ vừa, cỡ nhỏ, tập ghi dấu thanh đúng vị trí, làm quen với các chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định, tập viết các số đã học.

 

 

Ví dụ

Lớp Hai : Tập viết đúng mẫu và đều nét các chữ thường theo cỡ nhỏ, tập viết chữ hoa cỡ vừa và cỡ nhỏ.

Ví dụ :

Lớp Ba : Viết đúng, nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa cỡ nhỏ. Viết rõ ràng, đều nét một đoạn văn ngắn.

Ví dụ:

3.2.Tìm hiểu những yêu cầu cơ bản của việc luyện viết.

Muốn viết chữ đúng mẫu, đẹp giáo viên phải nắm được những yêu cầu cơ bản của môn Tập viết cụ thể là:

- Về kiến thức : Giáo viên phải có hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng và tên gọi các nét chữ, chữ và các chữ cái, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số, các chữ viết hoa.

- Về kĩ năng : Viết đúng quy trình viết nét, viết chữ cái và liên kết chữ cái tạo ra chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ. Ngoài ra, giáo viên cần rèn các kĩ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở,…..

3.3.Tìm hiểu về một số đặc điểm cơ bản của mẫu chữ viết cũng như một số quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về viết chữ ở trường Tiểu học hiện nay.

* Mỗi học sinh phải nắm vững các đặc điểm cơ bản về cách viết các chữ cái viết thường, dấu thanh chữ cái viết hoa và các chữ số của bảng mẫu chữ trong nhà trường Tiểu học, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau :

a)Mẫu chữ cái viết thường

- Các chữ cái b, g , h , k , l , y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị , tức bằng hai lần rưỡi chiều cao chữ cái ghi nguyên âm.

- Chữ cái t  được viết với chiều cao 1,5 đơn vị.

- Các chữ cái r , s  được viết với chiều cao 1,25 đơn vị.

- Các chữ cái d , đ , p , q  đuợc viết với chiều cao 2 đơn vị.

- Các chữ cái còn lại: o , ô , ơ , a , a , a , e , e , i , u , ư , n , m , v  x  được viết với chiều cao là 1 đơn vị.

- Các dấu thanh đuợc viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị.

b)Mẫu chữ cái viết hoa

Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị ; riêng hai chữ cái viết hoa y , g được viết  với chiều cao 4 đơn vị.

c)Mẫu chữ số

Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị.

* Quy định về dạy và  học viết chữ :

- Trong trường Tiểu học, học sinh học viết chữ viết thường, chữ số và chữ viết hoa theo kiểu chữ viết đứng, nét đều là chủ yếu.

- Việc dạy chữ viết hoa được tiến hành theo một quá trình từ nhận diện, tập tô, tập viết nét cơ bản đến viết từng chữ cái, từ viết đúng đến viết thành thạo, viết đẹp.

3.4.Rèn kĩ năng viết chữ đúng đẹp theo yêu cầu đối với học sinh lớp Bốn.

a)Đối với những học sinh viết sai độ cao và các chữ cái.

* Các chữ cái

Mỗi nhóm chữ cái có một đặc điểm riêng nên khi học sinh viết sai độ cao của các chữ cái giáo viên phải cho học sinh nắm vững hình dáng, cấu tạo, quy trình viết chữ cái. Cụ thể là giáo viên phải cho học sinh nắm vững vị trí của các đường kẻ trong vở tập viết, tọa độ của các nét chữ, chữ cái trong khung chữ mẫu.

- Xác định đường kẻ :

Trên vở tập viết                                                               Trên vở ô li

Trong đó :

  • Đường kẻ ngang trên.
  • Đường kẻ ngang giữa.
  • Đường kẻ ngang dưới.
  • Đường kẻ ngang phía dưới.

+ Đường kẻ ngang, kẻ dọc : Vở luyện viết của các em đã có sẵn các đường kẻ, giáo viên hướng dẫn cho các em cách gọi các đường kẻ. Các chữ cái có độ cao 1 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên và đường kẻ ngang dưới. Các chữ cái có độ cao 2 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên, giữa và dưới.

Ví dụ :

Đường kẻ ngang trên

Đường kẻ ngang dưới

Đường kẻ ngang trên

Đường kẻ ngang giữa

Đường kẻ ngang dưới

Đường kẻ ngang phía dưới

+ Ô vuông trên khung chữ mẫu : Các ô vuông này do các đừơng kẻ ngang dọc cắt nhau tạo thành, khoảng cách giữa hai ô vuông nhỏ theo chiều dọc là một đơn vị chữ chiều cao có chiều  cao là 5 ô vuông(2,5) đơn vị, chữ thường có chiều cao nhỏ nhất là 2 ô vuông (1 đơn vị chữ), chiều rộng tối đa là chữ thường có chiều rộng nhỏ nhất là 1,5 ô .

Từ đó, giáo viên yêu cầu học sinh ghi nhớ các đặc điểm cơ bản về cách viết theo sự phân loại hệ thống chữ cái Tiếng Việt thành các nhóm để luyện viết, cụ thể là :

-Nhóm chữ cái được viết với chiều cao là 2,5 đơn vị tức là bằng 2 lần rưỡi chiều cao ghi nguyên âm.

-Nhóm chữ cái được viết với chiều cao là 2,5 đơn vị tức là bằng hai lần rưỡi chiều cao ghi nguyên âm như : b ,  h ,  k , g , y.

- Nhóm chữ cái được viết với chiều cao 1,25 đơn vị như : r , s

- Nhóm chữ cái được viết với chiều cao 1,5 đơn vị như : t

- Nhóm chữ cái được viết với chiều cao 2 đơn vị như : d , đ , p , q

- Nhóm chữ cái được viết với chiều cao 1 đơn vị : o , ô , ơ , a , a , â , e , ê , i , u , ư , n  m , v , x .

*Viết số : Giáo viên cũng chia các chữ số theo nhóm để cho học sinh luyện viết.

* Chiều cao của các chữ cái hoa là 2,5 đơn vị bao gồm các chữ cái : A , A , Â , B , C , D, Đ, E , Ê , H , I , K , L , M , N , O , Ô , Ơ , P , Q , R , S , T , X , U , Ư , V

Riêng chữ cái hoa : Y,  G  được viết với chiều cao 4 đơn vị.

b) Đối với những học sinh viết sai gãy nét chữ, cụ thể là :

-Sai gãy nét khuyết xuôi, khuyết ngược.

-Sai các nét móc xuôi, móc ngược.

-Sai nét thẳng và nét xiên .

-Sai nét móc hai đầu.

-Sai nét vòng, nét thắt.

-Sai nét móc hai đầu có vòng ở giữa.

Trước hết giáo viên phải cho học sinh nắm chắc tên gọi của từng nét chữ rồi hướng dẫn kĩ năng viết các nét chữ  cơ bản, cấu tạo hệ thống chữ cái Tiếng Việt.

*Nét thẳng: Điểm đặt bút trên đường kẻ ngang trên hoặc dưới, đưa thẳng sang ngang hoặc đưa từ trên xuống, chếch sang phải hoặc sang trái

*Nét cong : Điểm đặt bút ở phía trên hoặc phía dưới vòng sang trái hoặc sang phải tạo nét cong kín hoặc cong hở.

Lưu ý: Viết nét cong kín không nhấc bút, không đưa bút ngược chiều, không viết thành 2 nét, không xoay vở, nét bút không tròn quá.

*Nét móc:

+Nét móc ngược: Điểm đặt bút xuất phát từ dòng kẻ ngang trên, kéo thẳng xuống gần đường kẻ ngang dưới thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ ngang dưới rồi đưa cong lên. Độ rộng của nét cong bằng  đơn vị. Điểm dừng bút cao hơn đường kẻ ngang một chút  (  đơn vị )

(1)              Điểm đặt bút:

(2)              Điểm uốn lượn:

(3)

Điểm kết thúc:

+Nét móc xuôi : Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang trên một chút, lượn cong tròn nét bút sang bên phải (Phần nét cong này có độ rộng bằng  đơn vị) sau đó viết tiếp nét thẳng đến khi chạm đường kẻ ngang dưới thì dừng lại.

(1)Điểm đặt bút:

(2)Điểm uốn lượn:

(3)Điểm kết thúc:

+Nét móc hai đầu:Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc bình thường phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. Cách viết phối hợp giữa nét móc xuôi và nét móc ngược.

(1)Điểm đặt bút:

(2,3)Điểm tiếp giáp giữa hai nét móc:

(4)Điểm kết thúc:

*Nét khuyết: Cách viết nét khuyết dựa vào đường kẻ ngang làm chuẩn.

+Nét khuyết trên: Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang giữa một chút( ô) đưa nét bút sang phải và lượn cong lên trên chạm vào đường kẻ ngang trên thì kéo thẳng xuống đường kẻ ngang dưới, điểm dừng bút trên đường kẻ ngang dưới.

(1)Điểm đặt bút:

(2)Điểm uốn lượn:

(3)Điểm kết thúc:

+Nét khuyết dưới : Điểm đặt bút ở đường kẻ ngang trên kéo thẳng xuống chạm dường kẻ ngang dưới thì lượn cong sang trái, đưa tiếp nét bút sang phải, điểm dừng bút cao hơn đường kẻ ngang giữa một chút ( ô) .

(1)Điểm đặt bút:

(2)Điểm uốn lượn:

(3)Điểm kết thúc:

*Nét móc hai đầu có vòng ở giữa.

Nét này có cấu tạo là một nét cong hở trái và một nét móc hai đầu biến dạng. Viết nét cong hở trái trước sau đó  viết tiếp nét móc hai đầu. Lưu ý sự chuyển tiếp giữa hai nét này phải đảm bảo hai yêu cầu:

-Độ cong của nét móc hai đầu không lớn quá để kết hợp với nét cong hở tạo thành một vòng khép kín.

-Điểm kết thúc của nét nằm trên đường kẻ ngang dưới (  ô) và rộng gấp đôi độ rộng của nét bình thường .

(1)Điểm bắt đầu nét cong:

(2)Điểm chuyển tiếp giữa nét cong và nét móc hai đầu:

(3)Điểm dừng bút:

*Nét vòng (nét thắt ).

Cấu tạo nét vòng gồm hai nét cong biến thể tạo thành (một nét cong hở trái và một nét cong hở phải). Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang ở giữa một chút đưa nét bút sang phải, uốn lượn nhẹ để tạo thành nét cong khép kín nhỏ. Điểm dừng bút thấp hơn dòng kẻ ngang trên một chút.

(1)Điểm đặt bút:

(2)Điểm chuyển tiếp giữa hai nét cong:

(3)Điểm dừng bút:

c)Đối với học sinh viết sai vị trí dấu thanh:

Các dấu thanh gồm: dấu sắc (     ), dấu huyền (   ), dấu hỏi (    ), dấu ngã (    ) , dấu nặng (  . ).

*Đối với các chữ ghi tiếng không có âm đệm và không có âm cuối vần, dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.

Ví dụ:  bò , kẻ , lá , cọ

*Đối với các chữ ghi tiếng có âm chính là nguyên âm đơn và nguyên âm cuối là bán nguyên âm thì dấu thanh đặt trên chữ ghi âm đơn là âm chính..

Ví dụ: màu , bạn , mùi

*Đối với các chữ ghi tiếng có âm đệm đầu vần thì dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính. (Hoặc ở các chữ ghi tiếng có âm cuối thì dấu thanh cũng đặt trên hoặc dưới âm chính).

Ví dụ:  loáng , nhoẻn

*Đối với các tiếng có nguyên âm đôi.

-Trường hợp tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh đặt ở con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi.

Ví du :  múa , mía , lựa

-Trường hợp tiếng có nguyên âm đôi có âm cuối  thì dấu thanh đặt ở con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.

Ví dụ:  rượu , chiều , muốn

*Đối với nguyên âm có dấu mũ  ^  , các dấu sắc, huyền, hỏi được viết cao hơn và hơi lệch về phía phải của dấu mũ.

Ví dụ:  ấm , trồng , biển .

*Đối với nguyên âm có dấu thanh ở vị trí phía trên của dấu  á (    ) thì đặt như ví dụ sau:

Ví dụ:  sắn , lẫn .

d)Đối với những học sinh viết sai khoảng cách các con chữ:

Giáo viên phải cho học sinh nắm vững khoảng cách giữa các con chữ trong từng  tiếng , khoảng cách giữa các tiếng trong từ.

Muốn học sinh viết đúng khoảng cách giữa các con chữ giáo viên phải cho học sinh nắm vững được cấu tạo của các con  chữ cái được chia thành các nhóm chữ. Dựa vào đặc điểm cơ bản của một số tiếng mà học sinh cần phải có khoảng cách giữa các con chữ hay giãn khoảng cách các con chữ sao cho đẹp.

Ví dụ: mong muốn

Chữ m, n cần phải viết nét móc.

Ví dụ: nhà.

e)Ngoài ra còn một số học sinh còn viết chữ ngửa trình bày bài viết không cân đối.

Giáo viên phải hướng dẫn học sinh một số kĩ thuật như:

-Điểm đặt bút: là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm ở đường kẻ ngang hoặc nằm trên đường kẻ ngang.

Ví dụ: r , e .

-Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái, điểm dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.

Ví dụ: o , n

-Tọa độ của điểm đặt bút hoặc dừng bút. Về cơ bản tọa độ này thống nhất ở vị trí  đơn vị chiều cao  chữ cái có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang.

-Viết liền mạch:Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tới điểm bắt đầu của nét tiếp sau.

Ví dụ:

 

-Kĩ thuật lia bút:Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) thao tác đưa bút trên không ấy gọi là “lia bút”

Ví dụ:

 

-Kĩ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ viết thừa, ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) chạy nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau.

g)Ngoài việc rèn cho học sinh sai ở từng trường hợp cụ thể để cho học sinh viết chữ đẹp, giáo viên còn phải luyện để viết nét thanh nét đậm .

Muốn vậy, đầu tiên giáo viên cho học sinh viết chữ đứng, nét đều rồi tăng dần đến luyện cách viết chữ theo kiểu nghiêng nét thanh, nét đậm. Đồng thời giáo viên phải hướng dẫn học sinh mua bút mài (nét thanh, nét đậm) của các cơ sở tin cậy. Giáo viên phải hướng dẫn cách cầm bút để luyện viết.

h)Để học sinh có chữ đẹp giáo viên phải quan tâm hướng dẫn cho học sinh tư thế ngồi viết, cách cầm bút.

Cụ thể là:

-Tư thế ngồi viết: Khi viết, học sinh ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào cạnh bàn, hai chân để thoải mái, đầu hơi cúi, hai mắt cách mặt vở khoảng 25 -30 cm. Cánh tay trái tì giữ vỡ, tay phải cầm bút , viết.

-Cách cầm bút: Học sinh cầm bút và điều khiển bút bằng 3 ngón tay (ngón trỏ, cái, giữa) của bàn tay phải. Không cầm bút bằng tay trái. Các chữ viết liền mạch, không nhấc bút từng nét, từng chữ cái.

-Vị trí đặt vở: Đặt nghiêng so với mặt bàn khoảng 30 độ (nghiêng về bên phải)

i)Những điều kiện về cơ sở vật chất đáp ứng việc luyện viết chữ đẹp:

-Phòng học đủ ánh sáng.

-Bảng lớp đẹp, chất lượng, chống lóa mắt.

-Bàn ghế học sinh rộng rãi, dủ khoảng cách hai học sinh ngồi một bàn, phù hợp với đối tượng học sinh.

-Phấn viết và bút viết: Phấn không bụi, mềm, bút viết mực nét thanh, nét đậm.

-Vở luyện viết chữ đẹp do nhà xuất bản ấn hành.

-Có que ngăn và khăn lót tay khi viết.

k)Sử dụng đồ dùng trực quan:

-Mẫu chữ cái trong khung chữ phóng to theo bảng mẫu chữ hiện hành.

-Bộ chữ rời viết thường và bộ chữ viết hoa.

Sau khi tôi đã hướng dẫn học sinh nắm vững các yêu cầu cơ bản khi tập viết và những đặc điểm cơ bản của mẫu chữ viết, tôi bắt đầu cho học sinh áp dụng những điều đã học để tự rèn luyện chữ viết của mình . Mỗi em có một quyển tập riêng để luyện viết thêm ở nhà. Lúc đầu, tôi chỉ cho học sinh luyện viết theo bảng chữ cái. Mỗi lần viết như  thế đều có sự hướng dẫn và kiểm tra chặt chẽ của tôi. Dần dần, luyện viết đến từ, câu và cuối cùng là đoạn văn hoặc đoạn thơ. Lúc này tôi chú ý hơn về cách trình bày của các em. Đối với những học sinh yếu,viết chậm tôi cố gắng chỉ dẫn tỉ mỉ hơn. Tôi thường xuyên liên hệ với gia đình của các em, để cùng theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ các em thực hiện tốt hơn. Rèn luyện chữ viết không chỉ chú trọng ở môn Tập viết mà còn liên quan mật thiết đến các môn học khác như: Chính tả, Tập làm văn, Khoa học, Lịch sử, Địa lí,….

Ví dụ: Ở các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lí,….các em rèn luyện chữ viết bằng cách chép ghi nhớ bài học vào vở sao cho viết đúng mẫu, sạch và đẹp.

Hoặc trong phân môn Tập làm văn, qua bài làm viết, tôi đều động viên , khuyến khích các em nên viết đúng mẫu chữ quy định, không mắc nhiều lỗi chính tả, bài làm sạch, tránh bôi xóa nhiều. Đến khi trả bài viết, ngoài việc nhận xét về nội dung bài làm cùa các em, tôi kết hợp nhận xét nhẹ nhàng đối với các em có chữ viết chưa đúng mẫu, tôi cũng không quên tuyên dương các em tiến bộ về chữ viết nhằm động viên khuyến khích tinh thần học tập của các em. Đặc biệt tôi không bao giờ phê bình hoặc cũng không phê điểm xấu cho các em mà  cho các em có  một cơ hội khác để vươn lên. Cụ thể như hàng tháng giáo viên chủ nhiệm đều có tổng kết lại số vở sạch chữ đẹp của các em đã đạt được. Qua đó giúp cho giáo viên có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc rèn chữ viết  cho các em, tức là nắm bắt được em nào có tiến bộ, em nào chưa tiến bộ để có kế hoạch giúp đỡ các em tiếp tục.

luyện chữ, gia sư tiểu học, luyện chữ tiểu học, ngay , căng,thẳng, tròn ,đều, cách luyện chữ, giáo án luyện chữ . Các quý phụ huynh cần Tìm gia sư tiểu hoc, gia sư tại nhà xin hãy đọc bài viết này

Pin It

________________________Source:tieuhocvn.info___________________

Top